Get Adobe Flash player

Arsen trong chuỗi thức ăn của con người, chuyển hóa sinh học và độc tính – Bài tổng quan chú trọng vấn đề arsen trong hải sản

Cá và hải sản là những thực phẩm góp phần chính đưa arsen (As) vào chế độ ăn uống. Hợp chất có chứa arsen vượt trội là organoarsenical arsenobetaine (AB), đặc biệt được tìm thấy ở các loại cá có vây. Tảo biển, vẹm xanh và các nhuyễn thể khác chứa ít AB hơn, nhưng chứa nhiều arsenosugars hơn và tương đối nhiều arsen vô cơ hơn (iAs), trong khi các loại cá có nhiều mỡ chứa nhiều arsenolipids. Những hợp chất khác có một lượng nhỏ trong hải sản, bao gồm trimethylarsine oxide (TMAO), trimethylarsoniopropionate (TMAP), dimethylarsenate (DMA), methylarsenate (MA) và hợp chất arsen có chứa lưu huỳnh. Arsen vô cơ độc hại và gây ung thư được chuyển hóa trong cơ thể con người và bài tiết qua nước tiểu ở dạng các chất gây ung thư dimethylarsinate (DMA) và methylarsonate (MA), sản xuất ra những chất trung gian có phản ứng trong khi chế biến. Sự chuyển hóa sinh học của organoarsenicals ít được biết đến, nhưng những hiểu biết mới đã cho thấy rằng sự chuyển hóa sinh học của arsenosugars và arsenolipids trong hải sản đã dẫn đến sự bài tiết DMA qua nước tiểu, có thể cũng sản xuất ra các hợp chất chứa arsen hóa trị 3 gây phản ứng. Những phát hiện mới đây cũng chỉ ra rằng quá trình trao đổi chất tiền hệ thống bằng đại tràng đóng một vai trò quan trọng đối với quá trình trao đổi hợp chất chứa arsen ở người. Việc chế biến hải sản cũng có thể dẫn đến sự chuyển hóa các hợp chất arsen.

 

Marianne Molin , Stine Marie Ulven, Helle Margeret Meltzer, Jan Alexander

Tâm Duyên dịch

Đừng lãng phí chất thải hải sản: Chuyển những vỏ sò vô giá trị thành nguồn hóa chất giàu đạm làm lợi cho nền kinh tế và môi trường

Hàng năm, có khoảng 6 đến 8 triệu tấn vỏ cua, tôm và tôm hùm được thải ra trên toàn cầu, chỉ riêng Đông Nam Á chiếm khoảng 1.5 triệu tấn. Trong khi 75% trọng lượng của cá ngừ có thể lóc ra ở dạng phi lê thì phần thịt cua chiếm chỉ khoảng 40% khối lượng của con cua. Ở các nước đang phát triển, vỏ hải sản thải ra thường được đổ ở bãi rác hoặc xuống biển. Ở các nước phát triển, việc xả thải có thể tốn kém – chẳng hạn như ở Úc chi phí này lên đến 150 USD/tấn.

Đọc tiếp...

Loại bỏ hexavalent chromium trong nước bị ô nhiễm bằng cách sử dụng các hạt micro/nano chitosan đã qua xử lý từ các chất thải trong chế biến hải sản

Các phân tử chitosan (CH) được lấy từ chất thải chế biến hải sản (vỏ tôm) và được phân loại lý-hóa tính, độ phân giải acetyl của CH được đo bằng Quang phổ Hồng ngoại (FTIR) và phép chuẩn độ Potentiometric; Trọng lượng phân tử polymer được xác định bằng phép đo độ nhớt nội tại.

Đọc tiếp...

Những nguy cơ biến đổi khí hậu và các lựa chọn thích nghi qua các chuỗi cung ứng hải sản Úc. Phần 2

Chuỗi cung ứng là một cấu trúc hữu ích để kiểm tra các ngành nghề một cách toàn diện, bởi vì thành công của một chuỗi phụ thuộc nhiều vào cách các thành phần được tập hợp lại để phân phối hiệu quả hơn là bản thân các thành phần đó (Peterson và cộng sự, 2000). Một quan điểm toàn diện cho phép kiểm tra các trở ngại và các cơ hội mà không rõ ràng từ sự tập trung vào một yếu tố duy nhất, chẳng hạn như giai đoạn đánh bắt cá ngoài tự nhiên. Các chuỗi cung ứng có thể trải dài từ các đại diện phức tạp bao gồm tất cả các hoạt động khoa học, sản xuất, thương mại, kỹ thuật, cấu trúc, chính sách và các hoạt đ

Đọc tiếp...

Thông báo

325987